Liên hệ: 07103.894.536 - FAX: 07103.915.151  - Email: cvduong_gd@ppe.com.vn

Kỹ Thuật Trồng Quýt Hồng Theo VietGap

31/05/2016

 

I.          KỸ THUẬT TRỒNG:

1 . Đất trồng và chuẩn bị liếp trồng :

-      Để thực hiện quy trình VietGAP cần vẽ bản đồ đất cho từng khu vực và đáp ứng các chỉ tiêu 1,2,3,6,7,8,9 của phụ lục 4.

-      Đất trồng: Đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH khoảng 5,5-7,0, hàm lượng hữu cơ >3%. 

-      Đào mương lên liếp: nhằm mục đích nâng cao tầng canh tác và giúp cây không bị ngập úng trong mùa mưa. Mương tưới và tiêu nước có chiều rộng từ 1-2m, chiều ngang liếp từ 5-8m. Vườn phải có đê bao chống lũ triệt để.

2.  Chuẩn bị cây giống :

Hiện nay, Quýt hồng chủ yếu được trồng bằng nhánh chiết từ cây giống ở địa phương. Nhánh chiết phải chọn từ cây mẹ 5 năm tuổi trở lên, sạch bệnh, sai trái, trái to, vỏ đẹp, trái có ít múi và múi to.

Cây giống phải đáp ứng theo chỉ tiêu thứ 4,5 của phụ lục 4.

3.  Đặt cây con.

-      Chuẩn bị mô: Dùng đất mặt ruộng hay đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mô có chiều cao 40 - 60cm, đường kính 60 - 80cm, đào hố giữa mô, trộn đều  đất với 5-10 kg phân chuồng, 1 kg phân Super lân và 0,5 kg vôi cho vào hố trước khi đặt cây con.

-      Cách đặt cây con: Đặt cây xuống giữa hố, sao cho mặt bầu ngang bằng mặt mô, ém đất xung quanh gốc, cắm cọc giữ cho cây không bị gió làm lung lay và tưới đủ nước. Cây con trồng từ nhánh chiết có thể đặt thẳng hay nghiêng. Nếu cây con có cành phân bố đều thì nên đặt thẳng, vì cây sẽ tạo được tán bình thường, nếu nhánh chiết có ít cành bên thì có thể đặt nghiêng để cây con dễ tạo các cành bên sau này.

-      Đánh dấu/ký hiệu cho từng cây và vẽ sơ đồ vườn trồng.

-      Chăm sóc cây con: Cây con sau khi trồng cần được chăm sóc kỹ, nhằm đảm bảo mật số và độ đồng đều giữa các cây.

4.  Mật độ trồng

Thông thường có thể trồng với khoảng cách 3 x 4m hoặc 4 x 4m, tương đương với mật độ từ 600 - 700cây/ha.

5.  Kỹ thuật tạo tán, tỉa cành: 

5.1. Tạo tán: là việc làm cần thiết ngay trong thời kỳ xây dựng cơ bản (từ năm thứ 1 đến năm thứ 3).

* Mục đích:

-             Tăng diện tích lá hữu hiệu, giúp quá trình quang hợp tốt hơn.

-             Duy trì sức sống tốt cho cây, bảo đảm sự cân bằng sinh trưởng và kết trái.

-             Thuận lợi trong việc quản lý vườn.

-             Hình thành và phát triển bộ khung cơ bản, từ đó phát triển các cành nhánh thứ cấp cho cây, đồng thời giúp cây vững chắc, tránh đổ ngã, gãy nhánh.

* Phương pháp:

-     Sau khi trồng, cây cần được tưới nước đầy đủ để phục hồi sinh trưởng. Khi cây xuất hiện tượt non đầu tiên thì tiến hành bấm ngọn.

-     Từ gốc lên khoảng 60-80 cm (đối với nhánh chiết) hoặc từ vị trí mắt ghép lên khoảng 40 - 60 cm (trên gốc ghép) thì bấm bỏ phần ngọn, mục đích để các mầm ngủ và cành bên phát triển.

-     Chọn 3 cành khỏe, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo ba hướng tương đối đồng đều nhau làm cành cấp 1. Dùng tre cột giữ cành cấp 1 tạo với thân chính một góc 35 - 40o.

-     Sau khi cành cấp 1 phát triển dài khoảng 50-80 cm thì cắt đọt để các mầm ngủ trên cành cấp 1 phát triển hình thành cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2-3 cành.

-     Các cành cấp 2 cách nhau khoảng 15-20 cm và tạo với cành cấp 1 một góc 30- 350. Sau đó cũng tiến hành cắt đọt cành cấp 2 như cách làm ở cành cấp 1. Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3.

-     Cành cấp 3 không hạn chế về số lượng và chiều dài nhưng cần loại bỏ các chỗ cành mọc quá dày hoặc quá yếu. Sau 3 năm cây sẽ có bộ tán cân đối, thuận lợi trong chăm sóc, phòng ngừa sâu bệnh và thu hoạch.

 5.2. Tỉa cành: Công việc tỉa cành được tiến hành hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những đoạn cành sau đây:

-      Cành đã mang quả (thường rất ngắn khoảng 10- 15 cm ).

-      Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang quả.

-      Cành đan chéo nhau, những cành vượt trong thời kỳ cây đang mang quả nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng với quả.

* Một số điểm cần lưu ý:

-      Dụng cụ, thiết bị dùng trong tỉa cành, tạo tán phải được vệ sinh sạch sẽ, khử trùng dụng cụ bằng nước Javel hoặc cồn 90o khi cắt hoặc tỉa cành để tránh lây bệnh qua cây khác. Sau khi sử dụng xong phải được cất giữ vào nơi an toàn.

-      Không được dùng dụng cụ hay thiết bị cắt, tỉa những cây bị nhiễm bệnh chung với cây sạch bệnh. Nếu dùng chung thì phải vệ sinh sạch trước khi sử dụng.

-      Phải có kho chứa dụng cụ hay thiết bị dùng trong khâu tỉa cành, tạo tán.

-      Những vết thương lớn sau khi cắt tỉa cần phải dùng sơn hoặc các thuốc trừ bệnh quét kín vết cắt nhằm tránh vết thương bị thối tạo điều kiện thích hợp cho côn trùng và mầm bệnh tấn công.

II.      CHĂM SÓC:

1.  Vét mương bồi liếp:

Có thể vét bùn kết hợp với việc tạo khô hạn để xử lý ra hoa. Vét bùn vào tháng 2-3 dương lịch, lớp bùn dày khoảng 2 cm là tốt nhất.

 Chú ý   : Không được bồi bùn lấp kín mặt gốc cây Quýt hồng vì bộ rễ cây vẫn cần không khí để hô hấp trong thời gian xử lý ra hoa.

2.  Trồng cây chắn gió và che mát :

-      Xây dựng hàng cây chắn gió là yêu cầu cấp thiết đối với vườn Quýt hồng, nhằm ngăn chặn sự di chuyển của sâu bệnh theo gió xâm nhập vào vườn, tạo tiểu khí hậu thích hợp trong vườn, hạn chế thiệt hại do gió bão. Các loại cây sử dụng làm cây chắn gió là: dâm bụt, mận, bạch đàn...

-      Quýt hồng thích hợp với ánh sáng tán xạ, vì vậy nên trồng cây che mát xen giữa hai hàng cây hoặc trồng dọc theo mương bằng các loại cây như: cóc, mận, mãng cầu, so đũa, cau, tràm...

3 . Tủ gốc giữ ẩm :

-     Cần tủ gốc bằng cỏ, rơm rạ và cách gốc khoảng 20cm nhằm giữ ẩm trong mùa nắng, hạn chế cỏ dại phát triển, đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây.

-     Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên trồng hoa màu để hạn chế đất bị xói mòn, tăng thu nhập.

-     Trong thời kỳ khai thác thì xu hướng hiện nay là quản lý cỏ dại trong vườn chứ không làm sạch cỏ nhằm giữ ẩm cho đất trong mùa nắng và chống xói mòn trong mùa mưa.

14 . Quản lý nước :

-             Chất lượng nước tưới phải đáp ứng các chỉ tiêu 15,16 của phụ lục  4.

-             Mùa nắng nên tưới nước thường xuyên cho cây, nếu thiếu nước sẽ làm giảm năng suất của cây, đồng thời phải thoát nước kịp thời trong mùa mưa để tránh ngập úng. Nên giữ ổn định mực nước luôn cách mặt liếp từ 60 - 80cm.

5 . Quản lý phân bón :

Phải đáp ứng các chỉ tiêu 10,11, 12, 13, 14 của phụ lục 4. Nếu nhà vườn tự ủ phân chuồng thì cần xây dựng và đặt bể ủ phân đảm bảo cách ly, không gây ô nhiễm cho vườn trồng và nguồn nước tưới. Không để phân hoá học và phân chuồng tiếp xúc hay dính vào quả trong quá trình bón phân.

5.1 . Vai trò của một số nguyên tố dinh dưỡng đối với cây Quýt hồng :

-      Đạm (N): Giúp cây sinh trưởng tốt, tăng năng suất, chất lượng. Thiếu đạm mức độ nhẹ lá chuyển sang vàng nhạt, mức độ nặng thì cành non chết khô, chồi ngắn, rụng trái non. Thừa đạm, ảnh hưởng xấu đến chất lượng trái, trái to vỏ dày chậm lên màu.

-      Lân (P2O5): Lân rất cần cho quá trình phân hoá mầm hoa. Thiếu lân trái thô, sần sùi, vỏ dầy, có chứa ít nước và nước rất chua.

-      Kali (K2O): Giúp tăng chất lượng và khả năng đậu trái, hạn chế chồi non lúc ra hoa, khả năng hút nước và hô hấp của cây... Thiếu kali làm cho trái nhỏ, vỏ mỏng, dễ rụng.

-      Canxi (Ca): Giúp thân, cành cứng tránh gãy đổ, tăng pH đất và sát trùng, trái chắc dễ tồn trữ. Có thể bón các loại vôi CaCO3 hoặc CaO,... vào đất.

-      Magiê: Giúp lá xanh tốt. Thiếu Mg lá có màu vàng hình chữ V ngược. Phun hay bón vào đất Mg(NO3)2, MgSO4,...

-      Kẽm: Thiếu kẽm lá vàng gân xanh, nhỏ dần và đóng lá dầy; thân, cành không phát triển; trái nhỏ, chất lượng kém,... Phun hợp chất qua lá có kẽm như sunfat kẽm lúc lá gần trưởng thành.

-      Đồng (Cu): Thiếu đồng vỏ trái có đốm nâu, trái nứt đít. Phun thuốc trừ bệnh gốc đồng (Copper zinc, Copper B,...).

-      Mangan (Mn) và sắt (Fe): Khi thiếu lá nhỏ, chồi non vàng màu trắng bạc (thiếu Fe), vàng từ cuống đến chóp lá (thiếu Mn), thường xảy ra ở đất axit và đất kiềm. Phun MnSO4 hay FeSO4,...lên lá.

5.2. Phân hữu cơ:

* Tác dụng của phân hữu cơ:

-             Cung cấp đa, vi lượng cho cây, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt.

-             Giúp quả có phẩm chất ngon, kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch.

-             Tạo môi trường tốt cho vi sinh vật đất phát triển, giúp quá trình phân hủy chất hữu cơ nhanh hơn để cung cấp dinh dưỡng cho cây.

-             Tăng hiệu lực của phân hoá học. Làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, giữ nước và phân bón tốt hơn, cải tạo và nâng cao độ phì của đất.

* Chuẩn bị vật liệu ủ phân hữu cơ và chủng nấm TRICÔ-ĐHCT:

-   Nguyên liệu:

   + Dư thừa thực vật (đã phơi héo): Rơm, cỏ, lục bình, lá cây...

   + Phân chuồng (đã mất mùi hôi): 1/4 tổng thể tích đống ủ.

   + Bạt nhựa phủ giữ ẩm.

-   Phương pháp thực hiện:

   + Gom hữu cơ thành đống: Đáy 2 m, cao 1,2 - 1,5 m.

   + Tưới nước vừa đủ ẩm (nắm chặt vừa rịn nước). Đạp chân để đống ủ được nén dẽ xuống.

   + Tưới nấm TRICÔ-ĐHCT (20 - 30 g/m3). Phủ bạt nhựa để giữ ẩm cho đống ủ, tưới nước bổ sung hằng tuần để đống ủ đủ ẩm.

   + Đảo đống ủ sau 3 tuần. Sau 6-8 tuần đống ủ sẽ được hoai mục và dùng phân ủ đã hoai để bón cho Quýt hồng.

5.3 . Các thời kỳ bón phân :

a.   Thời kỳ kiến thiết cơ bản: ( cây 1-3 năm tuổi )

Phân bón được chia làm nhiều đợt (4-6 đợt) để bón cho cây. Sau khi trồng nên dùng phân urê hoặc phân DAP với liều lượng 40g hoà tan trong 10 lít nước để tưới cho cây (2 tháng/lần). Khi cây trên 1 năm tuổi cần bón phân gốc để giúp cây phát triển mạnh. Hàng năm bón phân hữu cơ hoai mục từ 5 – 10 kg/cây. Bảng khuyến cáo liều lượng phân bón thời kỳ kiến thiết cơ bản:

Tuổi cây (năm)

số lần

bón/ năm

Lượng phân (g/cây/năm)

 Urea

Super lân

KCl

1

4-6

120-200

120-240

30-60

2

3-4

220-350

300-420

80-150

3

3-4

350-550

480-600

160-240

b.  Thời kỳ khai thác:

Tuỳ đất, tình hình sinh trưởng của cây, năng suất thu hoạch của vụ trước mà quyết định lượng phân bón thích hợp. Tuy nhiên, có thể tham khảo số lần bón và lượng phân bón cho 1.000m2 như sau:

-            Lần 1 (sau thu hoạch từ 1-3 ngày): DAP 20 kg + Super lân 50 kg +   phân hữu cơ hoai mục (10-20 kg phân hữu cơ/gốc) + Tricô 1 kg.

-            Lần 2 (sau thu hoạch 10 ngày, nhằm hỗ trợ tạo mầm hoa):   Phun phân bón lá 10-60-10 (10 kg).

-            Lần 3 (1-2 ngày sau tưới):  20 kg DAP + Phân gà 50 kg  + Tricô 1 kg.

-            Lần 4 (7-10 ngày sau khi tưới): 20 kg NPK (20-20-15) + 1-2 kg Risopla V.

-            Lần 5 (35-40 ngày sau khi tưới): 10 kg NPK (12-11-18) + Phân gà 50 kg + Tricô 1 kg. -  Lần 6 (60 ngày sau khi tưới): 10 kg NPK  (15-5-20).

-            Lần 7 (100 ngày sau khi tưới): 10  kg NPK  (20-20-15)

-            Lần 8 (130 ngày sau khi tưới): 10 kg NPK (15-5-20) + Phân gà 50 kg +   Tricô 1 kg.

-            Lần 9 (bón nuôi trái sau lũ): 20kg NPK (15-15-15) + 1-2 kg Risopla V.

-            Lần 10 (Trước thu hoạch 1 tháng): 10-15 kg KCl.

c. Cách bón phân: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, rãnh

sâu 10-15cm, rộng 10-20cm cho phân vào, lấp đất và tưới nước.  

-      Ngoài việc bón phân hoá học, phân hữu cơ, hàng năm cần cung cấp thêm vôi để tăng pH đất, bổ sung Calcium cho cây nhằm hạn chế nứt trái. Liều lượng bón khoảng 1kg/cây/năm và được bón trước mùa mưa lũ.

-      Phân bón lá nên phun 4-5 lần/vụ quả ở giai đoạn sau khi đậu quả và giai đoạn quả bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần cách nhau 15-20 ngày.

III.   XỬ LÝ RA HOA:

-      Cây quýt Hồng cũng giống như cây có múi khác, cần có thời gian khô hạn để phân hóa mầm hoa. Vì vậy, ở các vườn quản lý được nước thì có thể tạo sự khô hạn để cây ra hoa đồng loạt.

-      Sau khi thu hoạch xong tiến hành bón phân cho cây phục hồi, khoảng 30 ngày sau thì tiến hành vệ sinh vườn như: cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh, làm cỏ, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh…. Không nên cắt tỉa cành sớm vì cây sẽ ra đọt non ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa sau này (hoa sẽ ra muộn dẫn đến thu hoạch muộn).

-      Cây được bón phân lần 2 và tưới nước vừa đủ ẩm trước khi tiến hành xử lý ra hoa. Sau khi ngưng tưới nước khoảng 15-20 ngày (khi cây có biểu hiện héo) thì bắt đầu tưới nước trở lại, mỗi ngày 2-3 lần và tưới liên tục 3 ngày. Từ ngày thứ 4 trở về sau tưới 1 lần/ngày. 7-15 ngày sau khi tưới đợt đầu tiên cây sẽ ra hoa, thời gian này ngày tưới ngày nghỉ, 10-15 ngày sau khi trổ hoa, hoa sẽ rụng cánh (đậu quả).

* Các yếu tố liên quan để việc xử lý ra hoa thành công:

-      Trước giai đoạn xử lý ra hoa, không được bón quá nhiều phân có hàm lượng đạm cao.

-      Đất quá ẩm hoặc thời gian khô hạn không đủ để cây phân hoá mầm hoa.

-      Trên cây có nhiều tược non và cành vượt không được tỉa bỏ thường xuyên cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây.

IV.   QUẢN LÝ SÂU BỆNH:

-      Quản lý sâu bệnh phải đáp ứng các chỉ tiêu từ thứ 17 đến 29 phụ lục 4.  

-      Giai đoạn từ khi ra hoa đến đậu trái cần quản lý các đối tượng sâu và bệnh hại như: rầy chổng cánh, sâu vẽ bùa, bọ trĩ, nhóm nhện, ghẻ lồi, ghẻ lõm, bệnh loét…

-      Giai đoạn từ khi đậu trái đến khi thu hoạch cần quản lý các đối tượng côn trùng và bệnh hại như: nhóm nhện, rầy mềm, rệp sáp, bọ trĩ, bệnh ghẻ, bệnh loét, và tuyến trùng hại rễ….

Ngoài ra, cần thường xuyên theo dõi phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ, bệnh chảy mũ thân và đặt biệt chú ý loại trừ những cây bị nhiễm bệnh do virus như: bệnh vàng lá gân xanh, bệnh Tristerza.

1. Côn trùng :

1.1. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistic citrella Stainton):

Trứng có hình bầu dục, rất nhỏ, dài khoảng 0,2 – 0,3 mm, thường  được đẻ ở mặt dưới lá, gần gân chính. Trứng mới được đẻ ra có màu trong suốt, khi sắp nở có màu trắng vàng.

Thành trùng là một loài bướm rất nhỏ, thân hình mỏng mảnh, dài khoảng 2 mm, sải cánh rộng khoảng 4-5 mm. Toàn thân có màu vàng nhạt, có ánh bạc. Do kích thước nhỏ và hoạt động về đêm nên rất khó phát hiện được thành trùng.

Sâu mới nở có màu xanh nhạt,trong suốt, dài khoảng 0,4 mm, lớn lên sâu có màu vàng xanh, gần hoá nhộng có màu trắng hơi ngả vàng. Phá hại ở lá bằng cách đào những đường ngoằn ngoèo giữa hai lớp biểu bì, làm lá bị biến dạng, mặt trên lá bị khô, lá bị rụng, cây chậm tăng trưởng, hoa và trái có thể bị rụng.

Giai đoạn nhộng được hoàn thành ở cuối đường đục, gần rìa lá, phía dưới mép lá đã được cuộn lại. Nhộng dài từ 2-3 mm, phần đuôi thon nhọn, có một gai nhỏ trên đầu. Khi mới hoá nhộng có màu vàng lợt dần dần chuyển sang màu nâu khi sắp vũ hoá.

Thường gây hại nặng khi cây đang phát triển có nhiều lá non và tược non. Sâu tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển.

* Biện pháp phòng trị:

-          Tỉa cành, bón phân hợp lý, điều khiển sự ra chồi đồng loạt để hạn chế sự lây nhiễm trong năm.

-          Nuôi Kiến Vàng.

-          Sử dụng dầu khoáng DS 98.8 EC, SK 99 hoặc một trong các loại thuốc hoá học như Bian 40 EC, Selecron 50 ND, Cyperan 10 EC, Trigard 100 SL, Regent 800 WG... vào các đợt chồi, lá non.

1.2. Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayana):

Trứng màu vàng, hình trái lê, dài khoảng 0,3 mm, phía trên nhọn tạo thành một cuống nhỏ rất đặc biệt, thường được đẻ thành từng chùm ở trong nách lá hoặc trên lá các chồi non (lá còn xếp, chưa mở ra).

Ấu trùng rất nhỏ, hình bầu dục dẹp, mới nở thường có màu vàng tươi, tuổi 2 và tuổi 3 có màu xanh lục, tuổi 4 và tuổi 5 có màu nâu vàng. Cơ thể mang 2 mầm cánh nhỏ, di chuyển chậm chạp, sống thành từng đám trên đọt non.

Thành trùng có kích thước nhỏ, thân dài 2,5 – 3 mm, nâu xám, cánh có màu nâu vàng, chân có màu xám nâu, có thể nhảy rất nhanh khi bị động. Khi đậu, phần bụng của thành trùng nhổng cao một góc 300 với bề mặt nơi đậu nên được gọi là rầy chổng cánh.

Cách gây hại: Khi mật số cao rầy chích hút làm chồi bị khô, rụng lá, gây hiện tượng khô cành, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và sự ra trái. Mật ngọt do rầy chổng cánh tiết ra có thể tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây. Tuy nhiên, sự gây hại quan trọng nhất của rầy chổng cánh hiện nay ở ĐBSCL là truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh Greening cho cây có múi.

* Biện pháp phòng trị:

-             Tỉa cành và bón phân thích hợp để điều khiển đọt non ra tập trung, nhằm dễ theo dõi và phát hiện sự hiện diện của rầy chổng cánh.

-             Trồng cây chắn gió chung quanh vườn để hạn chế sự lây lan của rầy chổng cánh từ nơi khác đến.

-             Không nên trồng các loại cây kiểng như Cần thăng, Nguyệt quới, Kim quýt trong vườn.

-             Nuôi kiến vàng giúp giảm được mật số rầy trong vườn.

-             Vào các đợt lộc non, nên sử dụng bẫy màu vàng để phát hiện sự hiện diện của thành trùng nhằm kịp thời đối phó với Rầy chổng cánh. Cứ cách 5 cây/hàng đặt 1 bẫy. Sử dụng dầu khoáng DS 98.8 EC, SK 99 để phòng trị. Hạn chế sử dụng thuốc hoá học nhằm phát huy thiên địch trong điều kiện tự nhiên của vườn.

-             Khi cần thiết có thể phun một trong các loại thuốc như: Trebon 10 EC, Actara 25 WG, Admire 050 EC ... để trừ rầy.

1.3. Nhện: Gồm nhiều loại.

+ Nhện đỏ (Panonychus citri Mc Gregor).

+ Nhện vàng (Phyllocoptruta oleivora Ashmead).

+ Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus Banks).

Có kích thước rất nhỏ, gây hại trên nhiều bộ phận của cây như: lá trưởng thành, lá non, trái non. Khi bị gây hại, lá non bị biến dạng, trái bị hư lớp biểu bì, gây hiện tượng da lu, da cám.

Nhện có tính kháng thuốc cao, phát triển mạnh trong điều kiện khô hạn, vòng đời ngắn nên mật số tăng nhanh.

* Biện pháp phòng trị:

  + Tưới nước đầy đủ trong mùa nắng để tăng ẩm độ vườn.

  + Phun một trong các loại thuốc trừ nhện khi cần thiết: Vertimec 1.8 EC,

Rufast 3 EC, Nissorun 5 EC, Comite 73 EC, Pegasus 500 SC, Ortus 5 SC, Kumulus 80 DF... Để ngăn chặn sự bộc phát tính kháng thuốc, khi sử dụng thuốc hoá học cần luân phiên các loại thuốc có gốc hoá học khác nhau.

  + Phun Dầu khoáng DS 98.8 EC nồng độ 0,5-1% trải đều trên các bộ phận của cây (không nên dùng nồng độ cao).

1.4. Bù lạch (Scirtothrips dorsalis Hood):

Thành trùng có kích thước rất nhỏ, dài khoảng 0,1- 0,2 mm, màu vàng đến vàng cam. Cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại trên lá non, hoa và trái non. Bù lạch tấn công khi trái còn rất nhỏ (vừa rụng cánh hoa đến khi trái có đường kính khoảng 4 cm) tạo ra những mảng xám hoặc những phần lồi màu bạc trên vỏ trái, gây hại chủ yếu trên các trái nằm ngoài tán lá. Trên lá non, bù lạch tấn công làm lá biến màu, cong queo. Gây hại quan trọng vào mùa nắng.

* Biện pháp phòng trị:

-             Tưới nước bằng cách phun lên cây có thể hạn chế được mật số bù lạch.

-             Phun Dầu DC Tron Plus 98.8EC nồng độ 0,5-1%.

-             Sử dụng thuốc khi mật số bù lạch đạt 3 con/trái non và ≥ 5% trái bị nhiễm, luân phiên các loại thuốc hóa học như Trebon 10 EC, Bian 50 EC, Confidor 100 SC, Regent 5 SC, Actara 25 WG....

1.5. Rầy mềm ( Toxoptera aurantii, Toxoptera citricidus ):

Nhóm rầy mềm gây hại trên cây có múi chủ yếu 2 loài Toxoptera aurantii và Toxoptera citricidus, có kích thước rất nhỏ, hình quả lê, cơ thể thường rất mềm nên được gọi là rầy mềm.

Gây hại bằng cách chích hút chồi non, tập trung chủ yếu ở mặt dưới lá, làm chồi biến dạng, lá cong queo, còi cọc, không phát triển. Ngoài ra, rầy mềm còn tiết mật ngọt làm nấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây. Toxoptera aurantii và Toxoptera citricidus còn là tác nhân truyền bệnh “Tristeza” – một loại bệnh làm chết nhiều vườn cam quýt trên thế giới.

* Biện pháp phòng trị:

-             Trong điều kiện tự nhiên, thành phần thiên địch của rầy mềm rất phong phú, có thể khống chế đến 95% mật số rầy mềm, vì vậy cần hết sức thận trọng khi sử dụng thuốc hóa học.

-             Cần cắt bỏ và thiêu hủy các chồi đã bị nhiễm nặng.

-             Khi cây ra đọt non, nếu mật số Rầy mềm cao có thể sử dụng một trong các loại thuốc như: Trebon 10 EC, Bassa 50 ND, Actara 25 WG, Admire 050 EC... để phòng trị. Tuy nhiên, chỉ nên phun vào các chồi bị nhiễm, tránh phun tràn lan trên vườn, nhằm tạo điều kiện cho thiên địch phát triển, khống chế sự bộc phát của rầy mềm.

1.6 . Rệp sáp – rệp dính :

Có nhiều loài rệp sáp hiện diện trên cây cam, chanh, quýt. Có thể chia làm 2 nhóm: nhóm Rệp Sáp Dính và nhóm Rệp Sáp Bông.

Tất cả các loài này đều có đặc điểm chung là tiết ra một lớp sáp che chở cho cơ thể, lớp này hình thành nên một lớp vỏ cứng, có hình dạng, màu sắc và kích thước khác nhau (rệp sáp dính) hoặc lớp phấn trắng (rệp sáp phấn)

Các loài rệp sáp đều có chu kỳ sinh trưởng ngắn, khả năng sinh sản cao nên có khả năng bộc phát nhanh. Gây hại bằng cách chích hút lá, cành, trái, cuống trái. Nếu bị nhiễm nặng, lá bị vàng, rụng, cành bị khô và chết, trái cũng có thể bị biến màu, phát triển kém và bị rụng. Mật ngọt do rệp sáp tiết ra còn hấp dẫn nấm bồ hóng phát triển làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây, gây hại chủ yếu trong mùa nắng.

* Biện pháp phòng trị:

-             Chỉ sử dụng thuốc khi mật số cao (5-10% trái bị nhiễm, khoảng 5 thành trùng/trái hoặc lá) và khi 5% số cây trong vừon bị nhiễm.

-             Phun một trong các loại thuốc đặc trị rệp sáp khi cần thiết như: Bi 58 40 EC, Supracide 50 EC .... Cần chú ý luân phiên sử dụng thuốc.

1.7 . Ngài chích hút trái :

Có rất nhiều loài chích hút trái cam quýt được ghi nhận ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, 4 loài gây hại phổ biến là:

-             Eudocima salaminia

-             Othreis fullonia

-             Ophiusa coronata

-             Rhytia hypermnestra

Các loài đều có chung đặc điểm là thành trùng (bướm) có cơ thể thường lớn, bay khoẻ, ngực bụng đều to và phủ nhiều lông dài. Màu sắc sậm, tối, trên cánh có nhiều đốm lớn có hình dạng và màu sắc khác nhau, giữa cánh sau có đốm hình chữ C. Vòi chích dài, cứng và nhọn ở đầu để chích hút dịch trong trái.

Gây hại chủ yếu vào giai đoạn thành trùng, ấu trùng không gây hại, sống chủ yếu trên các cây mọc hoang, cây leo. Thành trùng hoạt động vào ban đêm, ban ngày ẩn trốn trong các tán lá dầy của những cây mọc hoang gần nguồn ký chủ chính, khi bắt đầu tối chúng bay vào vườn tìm thức ăn và bắt cặp. Rất dễ nhận diện do mắt ngài chiếu sáng và cánh có ánh lấp lánh. Thường gây hại từ giai đoạn trái da lươn đến chín nhờ mùi thơm của trái, di chuyển xa tìm thức ăn.

* Biện pháp phòng trị:

+ Loại trừ các loại cây hoang là thức ăn của ấu trùng, nơi trú ẩn của thành trùng (dây mối, thần thông...).

   + Vệ sinh vườn tược, loại bỏ trái rụng trong vườn.

   + Treo bẫy mồi vào ban đêm để dẫn dụ bướm đến diệt. Có thể dùng mồi nước ép trái cây có pha đường + thuốc có tính lưu dẫn (Basudin 50 ND...) pha loãng.

   + Vào mùa trái chín có thể soi đèn và dùng vợt để bắt bướm vào ban đêm

( khoảng từ 18 – 22 giờ )    +  Bao trái.

1.8. Bọ xít xanh (Rhychocoris humeralis Thunberg):

Bọ xít trưởng thành có màu xanh lá cây với hai gai nhọn ở phía trước hai bên ngực. Thành trùng thường hoạt động mạnh vào sáng sớm hay chiều mát, hiện diện phổ biến trong các vườn rậm rạp.

Cả ấu trùng và thành trùng đều dùng vòi để chích hút trái. Khi trái nhỏ bị gây hại, trái sẽ vàng, chai và rụng. Nếu trái lớn bị tấn công, trái có thể bị thối do bị bội nhiễm nấm hoặc một số vi sinh vật khác. Vỏ trái nơi vết chích có một chấm nhỏ với quầng màu nâu. Sự thiệt hại quan trọng nhất vào giai đoạn trái nhỏ. Có nhiều loài ong ký sinh trên trứng bọ xít và bọ xít trưởng thành.

* Biện pháp phòng trị:

-             Dùng vợt bắt lúc sáng sớm hay chiều mát.

-             Ngắt bỏ ổ trứng trên lá.

-             Nuôi kiến vàng trong vườn để xua đuổi bọ xít.

-             Xén tỉa cành, dọn dẹp vườn thông thoáng.

-             Lúc trái còn non, khi mật số bọ xít cao có thể phun một trong các loại thuốc như:  Bassa 50 EC, Trebon 10 EC, Bi 58 40EC, Supracide 40 EC, Admire 050 EC ...

2.  Bệnh :

2.1. Bệnh thối gốc chảy mủ (do nấm Phytopthora  spp):

Bệnh làm thối thân cây ở gốc, kể cả các rễ cạn bên trên và có chảy mủ hôi. Vỏ cây gần gốc lúc đầu bị sũng nước sau đó khô nứt dọc theo thân và bong ra làm vỏ cây bị thối nâu thành những vùng bất dạng. Bệnh lây lan trên ngọn thân hay phát triển vùng quanh gốc thân, cây bệnh có ít rễ con ngắn, vỏ rễ thối và rất dễ vuột.

Bệnh cũng làm thối trái nhất là những trái trên các cành gần mặt đất. Thường chỉ một bên trái hoặc đáy trái bị thối. Vùng thối hơi tròn, có màu xanh tối sau đó lan rộng ra khắp trái, trái thối có mùi hơi chua, trái bị rụng.

Nấm nhiễm vào gốc chủ yếu qua vết thương. Đất úng nước hay quá ẩm làm cho bệnh phát triển mạnh hơn.

* Biện pháp phòng trị:

-             Dùng gốc tháp chống chịu bệnh như cam chua, cam ba lá. -  Không để đất bị úng, đất phải thoát nước tốt.

-             Khử đất trước khi đặt cây bằng vôi hay các hóa chất khác.

-             Không trồng quá dầy, không đặt sâu khi trồng.

-             Không tủ cành khô cỏ dại, rác hoặc bồi sình lấp gốc cây. Không tưới nước quá ẩm làm lèn đất quanh gốc. Tránh gây thương tích ở gốc cây, bộ rễ.

-             Cắt tỉa cành để tạo thoáng khí, tránh để cây, trái chạm đất.

-             Cạo bỏ phần vỏ bệnh, sau đó quét vết bệnh bằng dung dịch Aliette 80 WP, Ridomil MZ 72 WP hoặc thuốc có gốc đồng. Có thể phun ngừa bằng một trong các loại thuốc: Aliette 80 WP, Ridomil MZ 72 WP, Copper - zinc 75 WP, Copper - B 75  WP,  Cuprimicin 81 WP ....

-             Thu gom, rãi vôi và chôn sâu trái bị bệnh.

2.2. Bệnh thán thư (Colletotrichum  gloesporioides):

Trên lá vết bệnh ướt nước, loang lỗ, màu nâu sáng, viền vết bệnh có màu đỏ sậm và mang các ổ nấm màu đen ở tâm. Cành non cũng bị đốm loang lỗ và bị héo. Trên hoa vết bệnh đầu tiên là những vết úng nước ở cánh hoa sau đó bị thối, trái non bị rụng để lại cuống hoa và đài hoa. Trái lớn cũng bị nhiễm bệnh, tạo thành đốm tròn màu nâu, lõm vào vỏ trái hay là những vùng nâu bất dạng dọc theo hông trái. Bệnh thường phát triển nặng trong mùa mưa.

* Biện pháp phòng trị:

-             Cắt, đốt bỏ các bộ phận bị bệnh, phun ngừa trước khi hoa được thành lập và sau đó định kỳ 1 tuần 1 lần cho đến khi trái đã ổn định.

-             Phòng trị bằng một trong các loại thuốc: Copper - B 75 WP, Score 250 EC, Benlate 50 WP, Fundazol 50 WP, Antracol 70 WP...

2.3. Bệnh vàng bạc (vàng lá gân xanh - Greening): Tác nhân gây bệnh: vi khuẩn.

Tác nhân  lây truyền:  rầy chổng cánh Diaphorina citri.

Đầu tiên trên cây có một số nhánh có lá non chuyển sang màu vàng, trong khi các gân lá vẫn còn xanh và nổi rõ lên, các nhánh còn lại vẫn phát triển bình thường. Các lá bệnh nhỏ, mọc đứng, dầy (giống như triệu chứng bị thiếu kẽm). Nhánh non bị chết khô, số nhánh bị bệnh trên cây tăng dần đến toàn cây. Rễ bị thối. Trái nhỏ, tâm bị lệch, nhạt màu, múi bên trong bị chai, hột thui, không nảy mầm, cây có thể ra hoa trái mùa nhưng hầu hết bị rụng. Cây bị bệnh có thể sống một vài năm mới chết. Hiện nay chưa có giống kháng bệnh nầy.

* Biện pháp phòng trị:

-   Tiêu hủy ngay cây bệnh.

-   Không lấy giống từ các cây mẹ có triệu chứng bệnh.

-   Khử trùng dụng cụ chăm sóc, chiết, tháp bằng bột tẩy, cồn cao độ.

-   Có thể phun sunfat kẽm (nếu đoán là thiếu kẽm )

-   Phòng trừ rầy chổng cánh trong vườn để giảm bớt tác nhân gây bệnh.

-   Kiến vàng cũng có khả năng hạn chế sự bộc phát của rầy chổng cánh.

-   Trồng cây chắn gió quanh vườn để hạn chế sự du nhập của rầy chổng cánh.

2.4. Bệnh vàng lá – thối rễ (nấm Fusarium solani).

Bệnh thường gây hại nặng vào cuối mùa mưa làm cây chết hàng loạt. Cây bệnh lá bị vàng và rụng đi khi có gió. Lúc đầu có thể chỉ trên một vài nhánh, nhưng về sau cả cây sẽ bị rụng lá. Cây có thể phát triển nhiều tược, lá non và bông trái, nhưng lá nhỏ, trái nhỏ và chua, sau đó cây chết hẳn. Đào rễ lên thấy rễ bị thối, chạy sọc nâu đen từ chớp rễ lan dần vào.

Nguyên nhân do đất bị dẻ chặt, ngập úng, rễ cây phải hô hấp trong điều kiện yếm khí thường sản sinh ra nhiều polyphenol. Chất này làm cho các tế bào non của rễ bị chết đi và đây là nơi giúp cho nấm Fusarium solani xâm nhập vào. Ngoài ra, đất trồng bị chua do can xi bị rửa trôi và thiếu chất hữu cơ tạo điều kiện cho nấm Fusarium phát triển.

* Biện pháp phòng trị:

-             Tạo điều kiện cho đất tơi xốp và thoáng khí.

-             Bón thêm phân hữu cơ cho cây.

-             Bón vôi để cải thiện độ chua của đất trong vườn.

-             Bón phân lân cho cây bệnh nhẹ để giúp bộ rễ phục hồi.

-             Nếu phát hiện sớm có thể dò tìm và cắt bỏ phần rễ bệnh, bôi thuốc vào vết cắt.

-             Phun một trong các loại thuốc như Benlate 50 WP, Fundazol 50 WP, Aliette 800 WG, Kocide 53.8 DF, TRICÔ - ĐHCT 108 bào tử/g, ....

2.5. Bệnh ghẻ nham (nấm Sphaeceloma (Elsinoe) fawcettii)

Bệnh rất phổ biến và gây hại chủ yếu ở các bộ phận non của cây còn nhỏ tuổi như lá, cành tược non làm cho cây kém phát triển.

Vết bệnh lúc đầu trông như các gai nhọn nhô ra ở mặt dưới lá; sau đó tạo thành các vết nâu nhỏ 1- 2 mm. Lá bệnh thường bị biến dạng cong về một bên. Cành non trái cũng có vết bệnh tương tự, nhưng các vết thường nối thành mảng lớn nhỏ bất dạng, nhám. Cây con nhiễm bệnh nặng sẽ bị lùn, còi cọc.

Cách lưu tồn và lây lan bệnh giống như bệnh loét.

* Biện pháp phòng trị:

-             Không trồng các cây con đã nhiễm bệnh.

-             Vệ sinh cắt bỏ các cành lá bệnh (mang ra khỏi vườn và đốt) trước khi tưới nước cho cây ra hoa.

-             Có thể phun một trong các loại thuốc: Tilt 250 EC, Tilt super 300 EC, Topsin - M 50 WP, Daconil 500 SC, Benlate - C 50 WP,...

2.6. Bệnh ghẻ lõm (do nấm Phoma citricarpa Mc Alp.)

Bệnh phát triển mạnh ở những vườn cây có múi trồng dày, trong mùa mưa. Thường thì mầm bệnh đã nhiễm vào trái non trong 4 tháng đầu, nhưng vết bệnh chỉ lộ ra khi trái bắt đầu già chín. Trên lá và trái, nấm gây các đốm bệnh tròn, khoảng 2- 3 mm, lõm vào vỏ trái hay mặt lá, viền đốm màu nâu, tâm màu xám trắng, thường có các ổ nấm màu đen như đầu kim ở giữa đốm bệnh. Khi bị nặng lá và trái thường bị rụng. Bào tử nấm lây lan chủ yếu nhờ nước.

* Biện pháp phòng trị:

-             Tỉa bỏ trái bị bệnh, vệ sinh vườn, dọn sạch lá bệnh ra khỏi vườn để tránh lây lan.

-             Vườn phải thông thoáng để giảm bớt ẩm độ vườn trong mùa mưa.

-             Có thể phun một trong các loại thuốc Dithane M - 45 80 WP, Cuproxat 345 SC, Carban 50 SC, Bonanza 100 SL, Copper - B 75 WP, Funguran - OH 50 WP, Rovral 50 WP....

2.7. Bệnh loét (Vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. citri):

Lá, trái, cành đều bị nhiễm, dễ thấy nhất trên lá và trái. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng ướt, xanh đậm (xanh tối) sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô lên trên mặt lá hay vỏ trái tạo nên các mụn ghẻ loét, sần sùi. Kích thước vết bệnh thay đổi theo loại cây, 1-2 mm trên quýt, 3-5 mm trên cam mật và 10 mm trên cam sành, bưởi. Chung quanh vết bệnh ở trên lá có thể có quầng vàng, lớn nhỏ tùy loại cây. Cành non bị nhiễm nặng sẽ dầy đặc mụn loét làm cành khô và chết.

Vi khuẩn tồn đọng trong các cành nhiễm bệnh. Gió, nước mưa, côn trùng ( sâu vẽ bùa) giúp lây lan bệnh.

* Biện pháp phòng trị:

-             Không trồng các cây con đã nhiễm bệnh.

-             Vệ sinh cắt bỏ các cành lá bệnh (mang ra khỏi vườn và đốt) trước khi tưới nước cho cây ra hoa.

-             Có thể phun một trong các loại thuốc như: Starner 20 WP, Kasuran 50 WP, Funguran - OH 50 WP, Kocide 61.4 DF...

2.8.  Bệnh TRISTEZA:

Bệnh gây hại nghiêm trọng cho nhiều vùng trồng cam quýt trên thế giới. Bệnh do virus  gây ra. Tuỳ theo dòng virus, giống, tổ hợp giữa mắt tháp và gốc tháp mà triệu chứng bệnh trên cây sẽ khác nhau như: cây suy dinh dưỡng, rụng lá, chết đọt, lùn cây, thối rễ, gỗ bị sọc lõm hoặc tổ ong; lá thưa, nhỏ, tròn, vùng giữa các gân lá bị vàng, trái nhỏ, méo.... Cây mang bệnh mãn tính sẽ bị lùn, phù gốc.

Bệnh lây lan qua mắt tháp hoặc do rầy mềm (Toxoptera citricidusToxoptera aurantii)  lan truyền.

* Biện pháp phòng trị:

Bệnh không có thuốc trị, nên ngừa bệnh là biện pháp chủ yếu.

-   Trồng cây sạch bệnh.

-   Loại bỏ ngay cây bệnh để tránh lây lan.

-   Kiểm soát chặt chẽ các loài côn trùng môi giới trong vườn.

V. THU HOẠCH VÀ XỬ LÝ SAU THU HOẠCH:

Quản lý khâu thu hoạch và sau thu hoạch phải đáp ứng các chỉ tiêu từ thứ 30 đến 45 của phụ lục 4. Thời gian cách ly tối thiểu 15 ngày trước khi thu hoạch nhãn đối với việc bón phân hoá học, phun phân bón lá, chất điều hoà sinh trưởng và thuốc bảo vệ thực vật.

1.  Neo trái:

 Đến thời điểm thu hoạch mà giá hạ thì có thể neo quả trên cây thêm từ 1530 ngày để chờ giá xuất bán, bằng cách phun lên cây các sản phẩm như: Retain, ProGibbe… Tuy nhiên, không nên neo trái quá lâu trên cây sẽ ảnh hưởng khả năng ra hoa ở vụ sau và tuổi thọ của cây bị giảm.

2.  Thu hoạch :

-             Quýt hồng từ khi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 10 tháng. Do đó, có thể điều khiển cây ra hoa để trái chín đúng vào dịp mà nông dân muốn bán trái.

-             Trái được xác định là chín khi có 25-50% diện tích vỏ trái chuyển màu vàng, tỷ lệ độ đường (brix) với lượng chất chua (acid) trong trái thay đổi 7/1-10/1, hàm lượng dịch trái chiếm khoảng 50% trọng lượng trái.

-             Thời gian thu hái trái tốt nhất trong ngày vào khoảng 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều, vì lúc này sương đã khô và trái mất độ trương, do đó giảm được sự tổn thương tinh dầu ở vỏ (tạo những vết bầm ở trái sau khi thu hoạch). Không nên hái trái sau khi mưa vì dễ gây thối trái.

3.  Xử lý và bảo quản sau thu hoạch :

Trái Quýt hồng sau khi thu hoạch được rửa bằng dung dịch chlorine 100200ppm (1-2g chlorine + 10 lít nước), có thể dùng vải mềm để chùi vỏ trái, làm vỏ trái sáng bóng hơn đồng thời loại bỏ bớt một số vi sinh vật gây hại. Sau khi rửa xong thì rửa lại bằng nước sạch và để khô.

Có thể bảo quản hoặc vận chuyển Quýt hồng ở nhiệt độ 8oC và nếu duy trì ở nhiệt độ này sẽ giữ cho trái tươi được khoảng 11 tuần với chất lượng ngon; ở nhiệt độ: 15oC có thể tồn trữ trái đến 7 tuần. Ngoài ra nếu sử dụng bao PE đục 3 lỗ, mỗi lỗ đường kính 1 mm có thể tồn trữ đến 5 tuần ở nhiệt độ phòng, tuy nhiên tỷ lệ bệnh khá cao. Nếu kết hợp bao PE ở điều kiện 15oC có thể kéo dài thời gian tồn trữ đến 9 tuần.

                                                                                                                                                                                                         Trích: Kỹ thuật trồng quýt hồng theo VietGap

                                                                                                                                                                                          SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG THÁP

                                                                                                                                                                                                      TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG – KHUYẾN NGƯ